search
top

ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Dưới góc độ pháp lý, kết hôn được hiểu là việc nam nữ lấy nhau thành vợ
chồng được Nhà nước công nhận. Nghĩa là, việc hai bên nam nữ khi xác lập quan
hệ vợ chồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn được quy định tại
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bao gồm điều kiện kết hôn và đăng ký kết
hôn.
Như vậy, kết hôn là một sự kiện pháp lý phát sinh quan hệ vợ chồng, chịu sự
điều chỉnh của pháp luật và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật do Nhà
nước ban hành và phải thỏa mãn 2 điều kiện sau:
Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với
nhau.
Ta thấy, quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân nên
việc kết hôn trước hết phải thể hiện ý chí tự nguyện của người kết hôn. Đây cũng là
cơ sở để đảm bảo cho nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được tuân thủ. Do
đó, khi kết hôn, người kết hôn phải bày tỏ ý chí tự nguyện kết hôn trước cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cơ quan có
thẩm quyền đăng ký kết hôn (Cơ quan hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã, nếu có
yếu tố nước ngoài thì do Cơ quan hộ tịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện) sẽ tiếp
nhận tờ khai đăng ký kết hôn và giải quyết việc đăng ký kết hôn. Vì vây, trong tờ
khai đăng ký kết hôn và trước cơ quan đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ thể hiện
mong muốn được kết hôn với nhau thể hiện qua việc tự ký vào tờ khai đăng ký kết
hôn trước sự chứng kiến của cơ quan đăng ký.
Nam, nữ kết hôn là mong muốn được gắn bó với nhau trong quan hệ vợ chồng
và cùng nhau trong quan hệ vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc,
bền vững, bình đẳng, tiến bộ… Do đó, sự tự nguyện của nam nữ trong việc kết hôn

vừa là điều kiện đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ
sở xây dựng gia đình bền vững.
Tuy nhiên, việc nam nữ tự ký vào tờ khai cũng chưa chắc đã là thể hiện sự tự
nguyện của hai bên. Do đó, khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, người tiếp nhận
tờ khai quan sát các hành vi, cử chỉ, nét mặt của hai bên để có thể xác định được
rằng họ thực hiện việc kết hôn có thật sự là tự nguyện. Trong trường hợp khi tiến
hành đăng ký kết hôn, phát hiện thấy có dấu hiệu của sự lừa dối, cưỡng ép kết hôn
hoặc kết hôn giả tạo, cơ quan có thẩm quyền sẽ từ chối việc đăng ký kết hôn.
Trường hợp đã đăng ký kết hôn mà phát hiện thấy có các dấu hiệu vi phạm sự tự
nguyện kết hôn thì việc kết hôn có thể bị xử hủy khi có yêu cầu.
Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận.
Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân
thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Việc đăng
ký kết hôn tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền, sau khi nhận hồ sơ đăng ký kêt
hôn của nam nữ thì phải tiến hành kiểm tra, xác minh về các thông tin mà các bên
nam, nữ đã khai.
Nếu những điều đã khai là đúng và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ
quan đăng ký kết hôn tiến hành đăng ký kết hôn cho họ theo đúng trình tự, thủ thục
mà pháp luật quy định. Như vậy, hai bên phải thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyển thì Nhà nước mới có căn cứ để thừa nhận quan hệ
hôn nhân. Kết hôn đúng quy định của pháp luật mới làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ giữa vợ và chồng. Pháp luật của Việt Nam quy định điều kiện kết hôn thể hiện
tính khoa học và phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Thông qua việc
kết hôn, Nhà nước kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện kết hôn và công nhận quan
hệ vợ chồng bằng việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

top